01:46 EDT Thứ hai, 18/06/2018

Bài viết theo chủ đề

Trang nhất » Bài viết » Tác hại » Lầm tưởng

Những lầm tưởng về não

Thứ sáu - 18/11/2011 21:10
Những lầm tưởng về não

Những lầm tưởng về não

Mặc dầu đã được nghiên cứu cực kỳ kỹ lưỡng nhưng cho tới hôm nay, não vẫn là nơi ẩn chứa rất nhiều điều bí ẩn đối với ngay cả các nhà khoa học. Những người bình thường thì lại càng biết ít hơn về cấu tạo và hoạt động của não. Chính vì thế nên các nhân viên của Viện Sức khỏe quốc gia ở Mỹ đã xây dựng nên danh sách 10 điều lầm tưởng phổ biến nhất về não người.

1. Theo tờ The Times of India, không ít người trong chúng ta hiện vẫn nghĩ rằng mình mới chỉ sử dụng khoảng 10% công suất của não. Thế nhưng, đó có lẽ là một trong những điều lầm tưởng hay gặp nhất về não.

Ý kiến trên được cho là của nhà tâm lý học người Mỹ William James (1842-1910) và xuất hiện ở đầu thế kỷ XX. Nó có vẻ rất có sức thuyết phục nhưng thực ra lại không đúng. Kết quả của các bức ảnh chụp cắt lớp não người cho thấy, để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó luôn cần tới sự phối hợp hoạt động của các khu vực khác nhau trong não.

2. Huyền thoại thứ hai liên quan tới những người mắc bệnh tự kỷ. Theo từ điển mở Wikipedia, đây là một căn bệnh dẫn đến sự rối loạn phức tạp trong quá trình phát triển tự nhiên. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra rất nhiều nguyên nhân làm xuất hiện bệnh tự kỷ nhưng thực ra vẫn chưa có được sự hiểu biết đầy đủ về câu chuyện này.

Cơ chế di truyền đóng góp khoảng 90% mối nguy hiểm gây bệnh tự kỷ phát triển ở trẻ em. Một số trường hợp hiếm gặp hơn, bệnh tự kỷ liên quan đến các tác nhân về những khiếm khuyết khi sinh. Rất nhiều trường hợp khác được đưa ra như là: tác hại của việc tiêm vắc xin; những đề xuất này gây tranh luận và giả thiết về vắc xin không có sức thuyết phục về mặt khoa học…

Đã phổ biến ý kiến cho rằng, những người mắc bệnh tự kỷ thường là có những tài năng thiên phú đặc biệt. Tuy nhiên, đó chỉ là một nhận định sai lầm được phổ biến chủ yếu nhờ ngành vô tuyến truyền hình. Các chuyên gia cho rằng, những bệnh  nhân tự kỷ có thể có những khả năng thể chất xuất sắc nhưng điều đó không đồng nghĩa với những năng lực trí tuệ.

3. Nhiều người trong chúng ta cho rằng, tình trạng tinh thần phân lập (hysteria) đồng nghĩa với hiện tượng đa nhân cách. Thực ra đấy là một  loại bệnh tâm thần mà theo y học cổ truyền phương Đông xuất hiện do những nguyên nhân như lo nghĩ quá độ, tân dịch bị ngừng trệ, đờm che lấp thanh khiếu gây ra hoặc do khí uất hóa ra hoả, tâm thần bị quấy nhiễu gây ra bệnh, hay còn có thể do di truyền, cảm nhiễm.

Triệu chứng của căn bệnh này rất đa dạng, thí dụ như con bệnh rơi vào trạng thái u uất, khờ dại, ngủ nhiều, nói lẩm bẩm một mình, người cứng như khúc gỗ. Hoặc con bệnh bỗng nhiên thích leo trèo lên cao, ca hát, chạy nhảy, xé quần áo, đánh chửi người khác, la hét suốt ngày, không ngủ cả ngày lẫn đêm. Con bệnh cũng có thể bị rơi vào tình trạng ảo giác, ảo thính, luôn tự nghĩ mình bị ám hại, nói năng khoác lác, lúc nào cũng tự trách bản thân…

Nhiều người đã nhầm lẫn những trạng thái như thế với hiện tượng đa nhân cách đôi khi do những chấn thương tâm lý nặng nề gây nên.

 

 

4. Cũng có chuyên gia cho rằng, não người không thay đổi theo dòng thời gian. Sự thật không phải như vậy, bởi lẽ não người hoàn toàn có thể hồi phục sau khi bị thương tổn và tự biến cải các hoạt động của mình. Thậm chí ngay cả trong những trường hợp bị thương tổn nặng, thí dụ như khi bị tai biến mạch máu não, sợi  trục thần kinh (axon) vẫn có thể hồi phục được và lành bệnh.

5. Và cũng khác với những suy nghĩ được phổ biến, rượu không tiêu diệt các nơron thần kinh. Tất nhiên, việc lạm dụng rượu sẽ gây tác động tới các hệ thống của não. Nhưng ảnh hưởng này chỉ tác động tới đọt nhánh (dendrite) của tế bào thần kinh, tức là tới những bộ phận mà nhờ chúng, nơron thần kinh thu nhận thông tin.

Và dẫu rằng hội chứng Wernicke – Korsakoff rất hiếm gặp được biểu hiện bằng sự mất nơron thần kinh trong một số khu vực của não, nhưng đó không phải là hiệu ứng đầu tiên của tật nát rượu mà chỉ là hệ lụy thứ hai của sự thiếu vitamin B1 do việc uống rượu nhiều gây nên.

6. Về sự không thể hồi phục lại được các tổn thương trong não thì vấn đề chính ở đây lại phụ thuộc chủ yếu vào mức độ tổn thương và nơi bị tổn thương. Những tổn thương vừa phải hoàn toàn có thể khắc phục được, chỉ những tổn thương quá nặng mới là không thể chạy chữa. Tuy nhiên, không nhất thiết bao giờ những tổn thương như thế cũng buộc con người phải rơi vào tình trạng sống thực vật.

7. Nhiều người trong chúng ta vẫn nghĩ rằng, con người có bộ não lớn nhất. Thế nhưng, một công trình nghiên cứu được tiến hành gần đây lại cho thấy, nếu tính trung bình não người nặng khoảng 1,4 kg, thì não của cá voi lại nặng khoảng 7,7 kg. Một số nhà khoa học còn cho rằng, quan trọng không phải là kích thước bộ não mà là tỉ lệ của não với thân thể động vật. Ở con người, tỉ lệ này là 1:50, còn ở các động vật khác, vào khoảng 1:180 hay 1:220.

Một điều quan trọng nữa là phần nào trong bộ não tham dự vào quá trình nhận thức của động vật. Trong tất cả các loài thì con người có vỏ não lớn nhất (đây là bộ phận chịu trách nhiệm về những chức năng cao cấp như trí nhớ và ngôn ngữ).

8. Nếu nói về cơ cấu của bộ não thì một số người vẫn nghĩ rằng, não, đó là một tập hợp vật chất đồng nhất. Nhưng thực ra, bộ não lại được hình thành từ vô số những lưới liên kết thần kinh (thần kinh đệm) và các nơron. Còn các tế bào thì được phân bố ở các phần khác nhau trong não, chịu trách nhiệm về những chức năng nhất định.

9. Còn có một huyền thoại nữa mà các bậc phụ huynh vẫn lầm tưởng. Có quan điểm cho rằng, nếu nghe nhạc Mozart thì trẻ em có thể trở nên thông minh hơn (phát triển dưới tác động của âm nhạc). Quan điểm này do nhà nghiên cứu người Pháp Alfred Tomatis (1920-2001) mô tả lần đầu rồi được truyền bá rộng rãi nhờ nhạc sĩ Don Campbell.

Chính vì thế nên nhiều bậc phụ huynh đã thi nhau mua các đĩa nhạc Mozart để về nhà phát triển năng khiếu âm nhạc của con mình. Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc nào chứng minh được sự đúng đắn của quan điểm trên.

10. Còn một huyền thoại nữa về bộ não mà theo đó, con người dường như chỉ có 5 giác quan. Không còn hoài nghi gì nữa về việc khứu giác, vị khác, thính giác, thị giác và xúc giác là những giác quan mạnh nhất của con người nhưng chúng không phải là duy nhất. Còn tồn tại những giác quan khác nữa như cảm giác về sự cân bằng, cảm giác về thân thể trong không gian và cảm giác đau đớn…

 

- Các phân tích về não cho thấy, không tồn tại chứng khó đọc:

Thông thường từ trước tới nay, chứng khó đọc vẫn bị coi là một trong những lệch chuẩn nặng nề trong quá trình phát triển của trẻ nhỏ, nhưng không liên quan tới việc suy giảm chỉ số thông minh (IQ).

Tuy nhiên, mới đây, các chuyên gia lại khẳng định rằng, sự thật không phải như thế. Các nhà khoa học ở Đại học Stanford (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu bộ não của những người mắc bệnh khó đọc và không tìm thấy những lệch lạc đáng kể trong não của họ cũng như trong não của trẻ em có chỉ số thông minh thấy.

Tham gia nghiên cứu này có 131 trẻ em trong độ tuổi từ 7 tới 16. Đám trẻ được chia làm ba nhóm, nhóm có chỉ số IQ bình thường nhưng đọc kém, nhóm đọc kém nhưng lại có chỉ số IQ thấp và nhóm kiểm tra. Cả ba nhóm này đều được mời thử test đọc (cần phải tìm ra những từ có vần với nhau)  và trong lúc đó thì não của chúng được chụp cắt lớp.

Kết quả là, trong khoảng 80%  thời gian, mức độ hoạt động của não trẻ em ở hai nhóm đầu gần như không khác gì nhau. Như vậy là những lệch chuẩn như chứng khó đọc hoàn toàn không tồn tại. Đó là kết luận của các nhà nghiên cứu ở Đại học Stanford.

Tuy nhiên, nghiên cứu trên lại bị GS John Stein ở Đại học Oxford phản bác kịch liệt. Theo GS, chứng khó đọc bắt nguồn từ gien và liên quan tới vấn đề xử lý âm thanh chứ không phải mức độ trí tuệ của con người.

- Sốc điện vào não có thể giúp bệnh nhân đứt mạch máu não trở lại cuộc sống bình thường:

Điện năng tác động vào não có thể giúp cho các bệnh nhân đã bị bất tỉnh do đứt mạch máu não hồi sinh. Đó là kết luận mới nhất do các nhà khoa học ở Đại học Oxford vừa đưa ra. Theo dự đoán của họ, trong 5 năm tới sẽ xuất hiện những cái mũ đặc biệt, có tác dụng kích thích chất xám trong não đã bị tổn thương bị đứt mạch máu não để các bệnh nhân có thể đội ở nhà. Và cũng sẽ xuất hiện những công cụ tương tự có thể giúp nâng cao khả năng tư duy ở những người khỏe mạnh.

Các thí nghiệm đã cho thấy, điện năng cải thiện được trí nhớ và hoạt động, thậm chí có thể gây ảnh hưởng tích cực tới thị giác và khả năng phát âm. Của đáng tội, các chuyên gia cũng không phủ nhận rằng, kỹ nghệ dùng sốc điện có thể gây nên tác hại phụ đối với hoạt động của não.


Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn